Skip to main content

Lầu Thơ

Lầu Thơ

Thường những lời này do thi hữu thân quen viết cho. Nhưng phần vì người quen thì không biết thơ, người thơ lại chẳng quen, nên đành tự mình viết cho mình. Bài viết này vừa như lời tựa, cũng là lời hạ kết của cuốn thơ.

"Lời thơ như gió như mây,
Bay đi cho hết tháng ngày trần gian ..." 

Đến với đời vào năm trùng bát (88). Làm thơ từ sớm chớm thiếu niên, những vần thơ vụng dại, tập thi. Bắt đầu đến với nàng thơ có lẽ bằng những bài Đường Luật, song nhiều năm chẳng lưu lại, tản mát các nơi thi đàn, có lẽ cũng duyên định vậy, thơ cũng như tình đầu đời, vội đến vội đi.

Thơ ghi lại được trên giấy bút, có lẽ những năm mộng mị mười tám đôi mươi. Mấy chục bài thơ viết trong cuốn sổ nhỏ,phía trước đề chữ Nhẫn. Có lẽ vừa là vô tình, vừa là hữu ý, mang chữ nhẫn này mà thành tập thơ này. Ngoài ra, còn cuốn sổ nhỏ nữa, ghi những vần thơ đoản cú, đôi câu, chứ chẳng thành bài. Nói hoa văn gọi là tập tạp ký ghi lại chút tâm tình sầu muộn tuổi ban mai, nói bình dân chút gọi là thơ vụn, cũng chẳng sai mấy. 

Phòng trên lầu cao, gió lạnh, tính hay nghĩ ngợi, lại thêm thường xuyên nghe nhạc buồn, nên thơ có phần khí lạnh lẽo, sầu nặng chứ ít khi tươi vui. Những khi rỗi rảnh, nhất là ban đêm, ngồi ban công mà trầm tư, viết lại thơ phần nhiều vào lúc này, vì vậy mới có tên là Nhàn Dạ Tạp Ký. Về sau, có một thời gian rất dài, tâm trạng rất chán chường, tuy vẫn giữ thói cũ lầu cao gió lạnh, nhưng đã chuyển nhà, dọn về một mái tịch cốc, xa chốn thị thành, bèn đổi trang nhà thành Nhàn Hàn Am Ký [閒寒庵記], tự gọi mình là Nhàn Hàn Am Khách [閒寒庵客].

Những năm này, đối đáp trên thi đàn, có vài bạn tri âm, cũng làm được đôi bài tâm đắc, nhưng thời gian trôi qua, phàm không giữ, tất là thất lạc, sau này muốn nhớ lại, cũng chẳng còn, nên mới làm ra một trang thơ này để lưu lại. Lại thường nói đùa rằng : "Để khi mất có cái mà đốt". 

Thơ trong tập thơ này, vụng dại có, chỉnh tề có, thơ phú cũng có, văn bình cũng có. Bao nhiêu kỷ niệm văn chương ghi lại được, đều để cả trong này. Các thi hữu ghé ngang xem thơ, nếu không có bài nào coi được, cũng xin đừng cười chê.

Xin kết lại chút lời này bằng đôi câu thơ cũ:

"Tháng hai nếu có tâm tư,
Chút thơ xin đốt cho người vị vong ... "

Viết vào Mùa Thu, trung tuần tháng Mười Một, năm Tân Mão 2011. 



Quán Văn

Tính ưa suy tư, thích tìm tòi, ngó nghiêng thiên hạ, thành ra thường chia sẽ những điều tự cảm thấy hay ho cho bằng hữu. Không đều đặn, những vẫn thường có những bài khảo cứu, tùy bút, tạp ký đăng tản mác ở các nơi. Thường thì mấy bài theo chuyên đề vẫn thường đăng trên các chuyên trang riêng, còn những bài lẻ tẻ thì nơi này một ít, nơi kia một ít. Mãi về sau, mới nghĩ đến việc gom lại để đưa vào trang riêng. 

Quán văn nói chung không đồng nhất, có khi là bài tu tập công án, có khi là một khảo cứu huyền học, có khi là một tạp ký về lịch sử. Tất cả đều gom lại đây hết. Dài có, ngắn có, tâm sự có, khảo cứu có. Dành cho những bằng hữu yêu thích ghé chơi. 

Viết thêm lại vào Mùa Xuân, trung tuần tháng Tư, năm Bính Thân 2016.

Popular posts from this blog

Dịch Thơ: Mô Ngư Nhi - Nhạn Khâu của Nguyên Hiếu Vấn

Ai coi tiểu thuyết hay phim cổ trang Thần Điêu Hiệp Lữ của Kim Dung, chắc ai cũng có ấn tượng về bài thơ của Lý Mạc Sầu. Không ít người thuộc lòng, nhưng chắc không phải ai cũng rõ xuất xứ bài này. Trong tác phẩm Thần điêu hiệp lữ của Kim Dung, Lý Mạc Sầu chỉ hát nửa đầu của bài từ mà thôi: Hỏi thế gian Tình ái là gì nhỉ ? Sống chết một lời hứa luỵ Nam Bắc phân chia hai đàng Mưa dầm nắng dãi quan san Cánh chim bạt gió muôn ngàn khổ đau Chung quy một kiếp tình sầu Khi vui gang tấc Ngàn sầu biệt ly Biết cùng ai, biết nói gì Chỉ trông mây núi người đi không về... Bài này là một bài từ, nguyên văn như sau: Phần hán văn:  摸魚兒-雁丘 問世間、情是何物, 直教生死相許? 天南地北雙飛客, 老翅幾回寒暑。 歡樂趣、 離別苦, 就中更有痴兒女。 君應有語, 渺萬里層雲。 千山暮雪, 只影向誰去? 橫汾路、 寂寞當年蕭鼓, 荒煙依舊平楚。 招魂楚些何嗟及, 山鬼暗啼風雨。 天也妒、 未信與, 鶯兒燕子俱黃土。 千愁萬古, 為留待騷人。 狂歌痛飲, 來訪雁丘處。 Phiên âm: Mô ngư nhi - Nhạn khâu Vấn thế gian tình thị hà vật Trực giao sinh tử tương hứa Thiên nam địa bắc song phi khách Lão sí kỷ hồi hàn thử ...

Cassandra, Thà Không Biết Còn Hơn

Hồi giữa tháng mười một này, có tham quan buổi triễn lãm về siêu thực ở cung điện nghệ thuật [1] tại Lyon. Triễn lãm bắt đầu từ tháng mười, vốn đã định đi từ đầu vì thấy cái tên Max Esnrt trong poster triễn lãm, vậy mà bận mãi đến giờ mới đi được. Thú vị thì nhiều thứ lắm, nhưng quá ấn tượng với tác phẩm Cassandra của Eugene Berman, nên về là thảo ý tưởng viết bài ngay. Cái tông đỏ ám ảnh của nó thật kỳ dị, quá kỳ dị và ngột ngạt, nhìn một hồi, không hiểu sao cứ lạnh sống lưng. Chắc do cảm lạnh, hi vọng thế. "Cassandra" của Eugene Breman Eugene Berman sinh năm 1899 ở Moscow, Nga, nhưng sống và làm việc chủ yếu ở phía tây, đặc biệt là Pháp. Nằm trong trường phái tân lãng mạn (neoromantism), ông thành công với các buổi triễn lãm ở Paris, sau đó ông đi New York rồi Los Angeles và về Rome rồi mất ở đấy. Phản đối lại hiện thực xấu xa của xã hội đương thời được gáng cho chủ nghĩa vật chất (materialism) hay chủ nghĩa hiện thực (realism), những con người vẫn còn hoài tưởng về chủ ng...

Erté, Yểu Điệu Thục Nữ

Hôm nay ngày sinh của Erté, một trong những nghệ sĩ tài năng của Pháp. Vốn quên bén đi vì đang chuẩn bị cho chuyến đi du lịch, lướt một chút thì trang tin của Viện Met hiện lên, nhắc nhớ. Erté, tên thật là Romain de Tirtoff, thường ký tên R.T được phát âm thành Erté, mà sau này trở thành hiệu danh chính thức của ông. Chữ ký của Erté Erté không phải là họa sĩ theo đúng nghĩa, ông chỉ là một nhà thiết kế thời trang, một nhà thiết kế mỹ thuật; nhưng tài hoa của ông sớm được nhìn nhận như một họa sĩ và điêu khắc gia có ảnh hưởng trong thế kỷ 20. Di sản của ông, phần lớn là các bản vẽ minh họa, nhưng vẫn thể hiện gu thẩm mĩ tinh tế đặc biệt.  Không mô tả nào phù hợp với tác phẩm của Erte bằng câu thơ tàu “yểu điệu thục nữ”[1]. Tác phẩm của Erte coi trọng đường cong, nhất là đường dợn sóng. Ở điểm này Erte gần với Victor Horta [2] hơn bất kỳ ai khác cho dù cả hai ở những lĩnh vực khác nhau. Cả hai yểu điệu đến mức cảm tưởng như tất cả tác phẩm được tạo nên bằng cách đồ lại nhữ...