Skip to main content

Dịch Thơ : Đại Than Dạ Bạc của Phạm Tông Ngộ



Đại Than Dạ Bạc của Phạm Tông Ngộ
 
Nguyên Văn


大灘夜泊

十載江湖一葉舟,
西風吹盡黑貂裘。
霜寒野寺鐘初夜,
月滿江村雁正秋。
今古無窮吾道在,
乾坤不礙此身浮。
明時苦戀歸心未,
慚愧雲山遶夢遊。


Phiên Âm


Đại Than dạ bạc

Thập tải giang hồ nhất diệp chu,
Tây phong xuy tận hắc điêu cừu.
Sương hàn dã tự chung sơ dạ,
Nguyệt mãn giang thôn nhạn chính thu.
Kim cổ vô cùng ngô đạo tại,
Càn khôn bất ngại thử thân phù.
Minh thời khổ luyến quy tâm vị,
Tàm quý vân sơn nhiễu mộng du.

Dịch ngĩa:

Đêm ghé thuyền bến Đại Than

Mười năm giang hồ với một lá thuyền con,
Gió tây thổi phai hết màu đen trên chiếc áo cầu lông điêu.
Ngôi chùa quê trong sương lạnh, tiếng chuông điểm khi đêm vừa đổ xuống,
Xóm ven sông trăng toả, chim nhạn bay giữa tiết trời thu.
Kim cổ vô cùng, đạo ta vẫn còn mãi,
Trời đất không ngăn trở, thân này cứ lênh đênh.
Còn lưu luyến với đời thịnh trị, chưa được thoả lòng quy ẩn,
Thẹn thùng, mây núi cứ quẩn quanh trong giấc chiêm bao.

Ðại Than là tên một khúc sông, còn gọi là Bình Than. Khúc sông này là đoạn dưới của sông Thiên Ðức (tức sông Ðuống ngày nay).

Bài dịch của Hoa Vô Tuyết:

Mười năm trôi nổi chiếc thuyền con
Cánh gió nhẹ tung manh áo mòn
Văng vẳng chuông xa
nơi chùa cũ
Mỏi mòn nhạn lạc
chốn trăng thôn
Đạo hoài lưu dấu cùng kim cổ
Người muốn ngao du mặc
càn khôn.
Chưa thỏa tang bồng sao yên được?
Chuyện đời len lỏi giấc mơ con.

Bài dịch của Nhak , thể song thất lục bát:

Thuyền một chiếc, lãng du đất khách,
Gió nhiều phen, áo rách sờn vai.
Chuông khuya sương quyện chùa ai,
Trăng thu bóng nhạn lạc loài cõi đêm
Lưu kim cổ, Đạo nghiêm còn giữ
So đất trời , thân cứ ung dung.
Việc đời muốn bỏ cho xong,
Núi mây vào mộng cho lòng chẳng yên !!!

Bài dịch của Nhak thể lục bát:

Thuyền ai rong ruổi đó đây,
Áo ai sờn rách, gió tây lạnh lùng.
Chùa ai sương lạnh điểm chuông,
Nhà ai trăng nhạn soi buồn trời thu.
Đạo ai kim cổ hoài lưu,
Thân ai cứ mặc lãng du đất trời.
Lòng ai lưu luyến với đời,
Mộng ai mây núi chơi vơi thẹn thùng...

Lúc dịch thơ có đối đáp qua lại:

PT:

Tốn sao bằng cuộc mây mưa?
Đôi ba dòng chữ câu thơ có gì
Nhak kia cái gã thật kỳ
Bắt người khác dịch làm chi thơ người?
Hắn ta bài bản sẵn rồi
Mình hao tâm trí hắn cười nhe nanh
Từ nay hơi sức để dành
Tội gì phí tổn mà thành liệt giường (đọc theo thơ bút tre à)

Nhak:

Tớ đây tâm sáng lọt rèm thưa
Thơ phú nào đâu dám chọn bừa
Thôi để Kỳ sau cho cậu chọn
Được chưa ?

Nhak:

Cả hội xem ra chỉ 3 ta
Vừa hét vừa hò lại vừa la
Kể ra cũng thật đáng cười nhỉ ?
Ha ha ...

PT:

Kỳ ba Hoa Tuyết đã ra
Hai bên tung hứng thật là du dương
Quẳng thằng Phạm Thái ra đường
Thói đời đen bạc cũng thường như ri
Hai chàng đang phút lâm ly
Tớ xin nằm kế, thấy kỳ làm sao
Thì đành phải
Out!
PT:

Chịu làm lớn bé anh đi
Thơ em anh sửa ,môi thì anh yêu
Thật lòng em chớ có kiêu
Mà mai hàng ế chợ chiều mà đau.

Nhak:

Tuy không tuyệt sắc giai nhân
Cũng là mỹ nữ mấy phần trời ghen
Cầu hôn cũng đã trăm phen
Dễ đâu cho cậu bon chen thế này
Gừng càng già, lại càng cay
Có đâu chịu kém cậu này mấy phân

Comments

Popular posts from this blog

Cassandra, Thà Không Biết Còn Hơn

Hồi giữa tháng mười một này, có tham quan buổi triễn lãm về siêu thực ở cung điện nghệ thuật [1] tại Lyon. Triễn lãm bắt đầu từ tháng mười, vốn đã định đi từ đầu vì thấy cái tên Max Esnrt trong poster triễn lãm, vậy mà bận mãi đến giờ mới đi được. Thú vị thì nhiều thứ lắm, nhưng quá ấn tượng với tác phẩm Cassandra của Eugene Berman, nên về là thảo ý tưởng viết bài ngay. Cái tông đỏ ám ảnh của nó thật kỳ dị, quá kỳ dị và ngột ngạt, nhìn một hồi, không hiểu sao cứ lạnh sống lưng. Chắc do cảm lạnh, hi vọng thế. "Cassandra" của Eugene Breman Eugene Berman sinh năm 1899 ở Moscow, Nga, nhưng sống và làm việc chủ yếu ở phía tây, đặc biệt là Pháp. Nằm trong trường phái tân lãng mạn (neoromantism), ông thành công với các buổi triễn lãm ở Paris, sau đó ông đi New York rồi Los Angeles và về Rome rồi mất ở đấy. Phản đối lại hiện thực xấu xa của xã hội đương thời được gáng cho chủ nghĩa vật chất (materialism) hay chủ nghĩa hiện thực (realism), những con người vẫn còn hoài tưởng về chủ ng...

Dịch Thơ: Mô Ngư Nhi - Nhạn Khâu của Nguyên Hiếu Vấn

Ai coi tiểu thuyết hay phim cổ trang Thần Điêu Hiệp Lữ của Kim Dung, chắc ai cũng có ấn tượng về bài thơ của Lý Mạc Sầu. Không ít người thuộc lòng, nhưng chắc không phải ai cũng rõ xuất xứ bài này. Trong tác phẩm Thần điêu hiệp lữ của Kim Dung, Lý Mạc Sầu chỉ hát nửa đầu của bài từ mà thôi: Hỏi thế gian Tình ái là gì nhỉ ? Sống chết một lời hứa luỵ Nam Bắc phân chia hai đàng Mưa dầm nắng dãi quan san Cánh chim bạt gió muôn ngàn khổ đau Chung quy một kiếp tình sầu Khi vui gang tấc Ngàn sầu biệt ly Biết cùng ai, biết nói gì Chỉ trông mây núi người đi không về... Bài này là một bài từ, nguyên văn như sau: Phần hán văn:  摸魚兒-雁丘 問世間、情是何物, 直教生死相許? 天南地北雙飛客, 老翅幾回寒暑。 歡樂趣、 離別苦, 就中更有痴兒女。 君應有語, 渺萬里層雲。 千山暮雪, 只影向誰去? 橫汾路、 寂寞當年蕭鼓, 荒煙依舊平楚。 招魂楚些何嗟及, 山鬼暗啼風雨。 天也妒、 未信與, 鶯兒燕子俱黃土。 千愁萬古, 為留待騷人。 狂歌痛飲, 來訪雁丘處。 Phiên âm: Mô ngư nhi - Nhạn khâu Vấn thế gian tình thị hà vật Trực giao sinh tử tương hứa Thiên nam địa bắc song phi khách Lão sí kỷ hồi hàn thử ...

Erté, Yểu Điệu Thục Nữ

Hôm nay ngày sinh của Erté, một trong những nghệ sĩ tài năng của Pháp. Vốn quên bén đi vì đang chuẩn bị cho chuyến đi du lịch, lướt một chút thì trang tin của Viện Met hiện lên, nhắc nhớ. Erté, tên thật là Romain de Tirtoff, thường ký tên R.T được phát âm thành Erté, mà sau này trở thành hiệu danh chính thức của ông. Chữ ký của Erté Erté không phải là họa sĩ theo đúng nghĩa, ông chỉ là một nhà thiết kế thời trang, một nhà thiết kế mỹ thuật; nhưng tài hoa của ông sớm được nhìn nhận như một họa sĩ và điêu khắc gia có ảnh hưởng trong thế kỷ 20. Di sản của ông, phần lớn là các bản vẽ minh họa, nhưng vẫn thể hiện gu thẩm mĩ tinh tế đặc biệt.  Không mô tả nào phù hợp với tác phẩm của Erte bằng câu thơ tàu “yểu điệu thục nữ”[1]. Tác phẩm của Erte coi trọng đường cong, nhất là đường dợn sóng. Ở điểm này Erte gần với Victor Horta [2] hơn bất kỳ ai khác cho dù cả hai ở những lĩnh vực khác nhau. Cả hai yểu điệu đến mức cảm tưởng như tất cả tác phẩm được tạo nên bằng cách đồ lại nhữ...