Skip to main content

Dịch Thơ : An định thời tiết của Tuệ Trung thượng sĩ - Thời Lý

An định thời tiết của Tuệ Trung thượng sĩ - Thời Lý

 Hán Văn:
生死由來罷問程,
因緣時節自然成。
山雲也有出山勢,
澗水終無投澗聲。
歲歲花隨三月笑,
朝朝雞向五更鳴。
阿誰會得娘生面,
始信人天總假名。

Phiên  Âm
 
Sinh tử do lai bãi vấn trình,
Nhân duyên thời tiết tự nhiên thành.
Sơn vân dã hữu xuất sơn thế,
Giản thuỷ chung vô đầu giản thanh.
Tuế tuế hoa tuỳ tam nguyệt tiếu,
Triêu triêu kê hướng ngũ canh minh
A thuỳ hội đắc nương sinh diện,
Thuỷ tín nhân thiên tổng giả danh.


Dịch ngĩa:


Sinh tử ko bit do dâu làm sao mà hỏi
Thời tiết của "nhân duyên" cứ thế tự nó hình thành.
Mây núi đã có cái thế bay ra khỏi núi,
Nước suối không tiếng nào không phải là tiếng nước gieo vào lòng suối.
Hàng năm, hoa vẫn nở vào tháng ba,
Sáng sớm, gà vẫn gáy vào canh năm.
Ai là người hiểu được mặt người mẹ,
Mới tin rằng người và trời đều là giả danh.


Bài của Phạm Hiển Thái dịch thể Lục Bát:

 
Tử sinh bần phú do trời
Nhân duyên mưa nắng cõi đời tự nhiên
Núi tung mây trắng khắp miền
Suối reo âm điệu rất riêng đâu lầm
Hoa cười hé nụ mùa xuân
Tiếng gà vọng gáy canh năm sáng rồi
Lớn khôn hiểu được mẹ tôi
Thì tin chín cõi mười trời giả danh.


Bài của Nhak dịch thể Song Thất Lục bát:

Chuyện sinh tử, biết đâu mà hỏi ?
Bởi nhân duyên, đúng lối mà thành ...
Núi cao mây vẫn cuộn quanh,
Suối trong, làn nước hòa thanh một bài.
Canh năm sáng, gà say tiếng gáy,
Tháng ba xuân, hoa né nụ cười.
Mẹ hiền ai hiểu cho người,
Mới hay trời đất toàn lời giả danh ...

Bài của Nhak dịch thể Thất Ngôn Bát Cú:

 
Sinh tử sao ai dám thuyết trình ?
Nhân duyên hợp lẽ tự nhiên thành !
Núi mây dựng thế, xưa đà thế,
Suối đá hòa thanh, nay vẫn thanh.
Xuân đến hoa cười, câu chuyện tiếu,
Ngày qua gà gáy, khúc bình minh.
Mẹ hiền ai tỏ cho nhân diện,
Há biết đất trời khéo giả danh !!!

Ghi chú: bài dịch nì giữ nguyên cả bộ vận thi của Bài nguyên tác

Bài của Nhak dịch thể Ngũ Ngôn:

 
Sinh tử không dám nói
Nhân duyên tự thế rồi !
Núi dựng mây vẫn quấn
Đá yên suối cứ trôi.
Sáng rồi gà bừng gáy
Xuân đến hoa hé môi.
Măt mẹ ai có biết
Đất trời giả danh thôi



Trong lúc dịch có đối đáp:

PT:
Dịch có mà dịch vật!
Trời có mà trời ơi!
Chỉ mấy nghoe vung bút
Kêu ai chi phí lời!

Nhak:
Việc khó ko nên nản
Cuộc đời vốn gian nan
Nếu sự như ý cả
Nhàn !!!

Comments

Popular posts from this blog

Cassandra, Thà Không Biết Còn Hơn

Hồi giữa tháng mười một này, có tham quan buổi triễn lãm về siêu thực ở cung điện nghệ thuật [1] tại Lyon. Triễn lãm bắt đầu từ tháng mười, vốn đã định đi từ đầu vì thấy cái tên Max Esnrt trong poster triễn lãm, vậy mà bận mãi đến giờ mới đi được. Thú vị thì nhiều thứ lắm, nhưng quá ấn tượng với tác phẩm Cassandra của Eugene Berman, nên về là thảo ý tưởng viết bài ngay. Cái tông đỏ ám ảnh của nó thật kỳ dị, quá kỳ dị và ngột ngạt, nhìn một hồi, không hiểu sao cứ lạnh sống lưng. Chắc do cảm lạnh, hi vọng thế. "Cassandra" của Eugene Breman Eugene Berman sinh năm 1899 ở Moscow, Nga, nhưng sống và làm việc chủ yếu ở phía tây, đặc biệt là Pháp. Nằm trong trường phái tân lãng mạn (neoromantism), ông thành công với các buổi triễn lãm ở Paris, sau đó ông đi New York rồi Los Angeles và về Rome rồi mất ở đấy. Phản đối lại hiện thực xấu xa của xã hội đương thời được gáng cho chủ nghĩa vật chất (materialism) hay chủ nghĩa hiện thực (realism), những con người vẫn còn hoài tưởng về chủ ng...

Dịch Thơ: Mô Ngư Nhi - Nhạn Khâu của Nguyên Hiếu Vấn

Ai coi tiểu thuyết hay phim cổ trang Thần Điêu Hiệp Lữ của Kim Dung, chắc ai cũng có ấn tượng về bài thơ của Lý Mạc Sầu. Không ít người thuộc lòng, nhưng chắc không phải ai cũng rõ xuất xứ bài này. Trong tác phẩm Thần điêu hiệp lữ của Kim Dung, Lý Mạc Sầu chỉ hát nửa đầu của bài từ mà thôi: Hỏi thế gian Tình ái là gì nhỉ ? Sống chết một lời hứa luỵ Nam Bắc phân chia hai đàng Mưa dầm nắng dãi quan san Cánh chim bạt gió muôn ngàn khổ đau Chung quy một kiếp tình sầu Khi vui gang tấc Ngàn sầu biệt ly Biết cùng ai, biết nói gì Chỉ trông mây núi người đi không về... Bài này là một bài từ, nguyên văn như sau: Phần hán văn:  摸魚兒-雁丘 問世間、情是何物, 直教生死相許? 天南地北雙飛客, 老翅幾回寒暑。 歡樂趣、 離別苦, 就中更有痴兒女。 君應有語, 渺萬里層雲。 千山暮雪, 只影向誰去? 橫汾路、 寂寞當年蕭鼓, 荒煙依舊平楚。 招魂楚些何嗟及, 山鬼暗啼風雨。 天也妒、 未信與, 鶯兒燕子俱黃土。 千愁萬古, 為留待騷人。 狂歌痛飲, 來訪雁丘處。 Phiên âm: Mô ngư nhi - Nhạn khâu Vấn thế gian tình thị hà vật Trực giao sinh tử tương hứa Thiên nam địa bắc song phi khách Lão sí kỷ hồi hàn thử ...

Erté, Yểu Điệu Thục Nữ

Hôm nay ngày sinh của Erté, một trong những nghệ sĩ tài năng của Pháp. Vốn quên bén đi vì đang chuẩn bị cho chuyến đi du lịch, lướt một chút thì trang tin của Viện Met hiện lên, nhắc nhớ. Erté, tên thật là Romain de Tirtoff, thường ký tên R.T được phát âm thành Erté, mà sau này trở thành hiệu danh chính thức của ông. Chữ ký của Erté Erté không phải là họa sĩ theo đúng nghĩa, ông chỉ là một nhà thiết kế thời trang, một nhà thiết kế mỹ thuật; nhưng tài hoa của ông sớm được nhìn nhận như một họa sĩ và điêu khắc gia có ảnh hưởng trong thế kỷ 20. Di sản của ông, phần lớn là các bản vẽ minh họa, nhưng vẫn thể hiện gu thẩm mĩ tinh tế đặc biệt.  Không mô tả nào phù hợp với tác phẩm của Erte bằng câu thơ tàu “yểu điệu thục nữ”[1]. Tác phẩm của Erte coi trọng đường cong, nhất là đường dợn sóng. Ở điểm này Erte gần với Victor Horta [2] hơn bất kỳ ai khác cho dù cả hai ở những lĩnh vực khác nhau. Cả hai yểu điệu đến mức cảm tưởng như tất cả tác phẩm được tạo nên bằng cách đồ lại nhữ...