Skip to main content

Dịch Thơ: Đạp Sa Hành của Âu Dương Tu



Nguyên tác:


踏莎行


候館梅殘,
溪橋柳細,
草薰風暖搖征轡。
離愁漸遠漸無窮,
迢迢不斷如春水。
寸寸柔腸,
盈盈粉淚,
樓高莫近危闌倚。
平蕪盡處是春山,
行人更在春山外。 

Phiên âm:
Hậu quán mai tàn,
Khê kiều liễu tế,
Thảo huân phong noãn dao chinh bí.
Ly sầu tiệm viễn tiệm vô cùng,
Điều điều bất đoạn như xuân thuỷ.

Thốn thốn nhu trường,
Doanh doanh phấn lệ,
Lâu cao mạc cận nguy lan ỷ.
Bình vu tận xứ thị xuân san,
Hành nhân cánh tại xuân san ngoại.  

Dịch nghĩa:
Nơi quán nghỉ, hoa mai đã tàn
Cầu bên khe, lá liễu lăn tăn
Cỏ thơm, gió ầm, cương ngựa ruổi dong
Nỗi buồn chia ly càng xa càng không biết là cùng
Chảy dài không đứt như nước dòng xuân

Từng tấc, từng tấc ruột mềm
Rưng rưng tràn đầy đầy nước mắt
Lầu cao chớ ra đứng tựa ngoài lan can
Tầm mắt nhìn xa tít, đó là núi xuân
Ngưới đi lại ở ngoài núi xuân đó 

Nhak dịch:
Hoa tàn, quán cũ,
Cầu khe, liễu rũ,
Cỏ thơm, gió hú,
Cầm cương vui thú,
Chia ly buồn cũ còn lưu
Suối xuân dòng cũ còn lưu dấu hoài...


Đoạn đoạn ruột đau
Rưng rưng lệ trào
Gió lạnh, lầu cao
Đừng tựa ngoài rào
Núi xuân xa tít tầng cao
Có người quen cũ nơi nào đó chăng ? 

Phạm Thái dịch:
Quán xưa tàn cội mai già
Cạnh bên cầu nát liễu sa lá vàng
Cỏ thơm chờ gió lạnh hoang
Say trên lưng ngựa dặm ngàn ruổi rong
Sinh ly tử biệt khôn cùng
Chảy dài vô tận như dòng nước xuân
Lòng đau từng đoạn xẻ phân
Trên mi suối lệ đã dần cạn khô
Lầu cao gió rét xa mờ
Núi xuân mới đó mà giờ cách xa
Vẳng nghe tiếng sáo ngân nga
Người đi đi mãi chẳng là nhớ thương.

Comments

Popular posts from this blog

Cassandra, Thà Không Biết Còn Hơn

Hồi giữa tháng mười một này, có tham quan buổi triễn lãm về siêu thực ở cung điện nghệ thuật [1] tại Lyon. Triễn lãm bắt đầu từ tháng mười, vốn đã định đi từ đầu vì thấy cái tên Max Esnrt trong poster triễn lãm, vậy mà bận mãi đến giờ mới đi được. Thú vị thì nhiều thứ lắm, nhưng quá ấn tượng với tác phẩm Cassandra của Eugene Berman, nên về là thảo ý tưởng viết bài ngay. Cái tông đỏ ám ảnh của nó thật kỳ dị, quá kỳ dị và ngột ngạt, nhìn một hồi, không hiểu sao cứ lạnh sống lưng. Chắc do cảm lạnh, hi vọng thế. "Cassandra" của Eugene Breman Eugene Berman sinh năm 1899 ở Moscow, Nga, nhưng sống và làm việc chủ yếu ở phía tây, đặc biệt là Pháp. Nằm trong trường phái tân lãng mạn (neoromantism), ông thành công với các buổi triễn lãm ở Paris, sau đó ông đi New York rồi Los Angeles và về Rome rồi mất ở đấy. Phản đối lại hiện thực xấu xa của xã hội đương thời được gáng cho chủ nghĩa vật chất (materialism) hay chủ nghĩa hiện thực (realism), những con người vẫn còn hoài tưởng về chủ ng...

Dịch Thơ: Mô Ngư Nhi - Nhạn Khâu của Nguyên Hiếu Vấn

Ai coi tiểu thuyết hay phim cổ trang Thần Điêu Hiệp Lữ của Kim Dung, chắc ai cũng có ấn tượng về bài thơ của Lý Mạc Sầu. Không ít người thuộc lòng, nhưng chắc không phải ai cũng rõ xuất xứ bài này. Trong tác phẩm Thần điêu hiệp lữ của Kim Dung, Lý Mạc Sầu chỉ hát nửa đầu của bài từ mà thôi: Hỏi thế gian Tình ái là gì nhỉ ? Sống chết một lời hứa luỵ Nam Bắc phân chia hai đàng Mưa dầm nắng dãi quan san Cánh chim bạt gió muôn ngàn khổ đau Chung quy một kiếp tình sầu Khi vui gang tấc Ngàn sầu biệt ly Biết cùng ai, biết nói gì Chỉ trông mây núi người đi không về... Bài này là một bài từ, nguyên văn như sau: Phần hán văn:  摸魚兒-雁丘 問世間、情是何物, 直教生死相許? 天南地北雙飛客, 老翅幾回寒暑。 歡樂趣、 離別苦, 就中更有痴兒女。 君應有語, 渺萬里層雲。 千山暮雪, 只影向誰去? 橫汾路、 寂寞當年蕭鼓, 荒煙依舊平楚。 招魂楚些何嗟及, 山鬼暗啼風雨。 天也妒、 未信與, 鶯兒燕子俱黃土。 千愁萬古, 為留待騷人。 狂歌痛飲, 來訪雁丘處。 Phiên âm: Mô ngư nhi - Nhạn khâu Vấn thế gian tình thị hà vật Trực giao sinh tử tương hứa Thiên nam địa bắc song phi khách Lão sí kỷ hồi hàn thử ...

Erté, Yểu Điệu Thục Nữ

Hôm nay ngày sinh của Erté, một trong những nghệ sĩ tài năng của Pháp. Vốn quên bén đi vì đang chuẩn bị cho chuyến đi du lịch, lướt một chút thì trang tin của Viện Met hiện lên, nhắc nhớ. Erté, tên thật là Romain de Tirtoff, thường ký tên R.T được phát âm thành Erté, mà sau này trở thành hiệu danh chính thức của ông. Chữ ký của Erté Erté không phải là họa sĩ theo đúng nghĩa, ông chỉ là một nhà thiết kế thời trang, một nhà thiết kế mỹ thuật; nhưng tài hoa của ông sớm được nhìn nhận như một họa sĩ và điêu khắc gia có ảnh hưởng trong thế kỷ 20. Di sản của ông, phần lớn là các bản vẽ minh họa, nhưng vẫn thể hiện gu thẩm mĩ tinh tế đặc biệt.  Không mô tả nào phù hợp với tác phẩm của Erte bằng câu thơ tàu “yểu điệu thục nữ”[1]. Tác phẩm của Erte coi trọng đường cong, nhất là đường dợn sóng. Ở điểm này Erte gần với Victor Horta [2] hơn bất kỳ ai khác cho dù cả hai ở những lĩnh vực khác nhau. Cả hai yểu điệu đến mức cảm tưởng như tất cả tác phẩm được tạo nên bằng cách đồ lại nhữ...