Skip to main content

Dịch Thơ: Kim Vũ Y của Đỗ Thu Nương



Hán Văn:

金縷衣

勸君莫惜金縷衣, 
勸君惜取少年時。 
花開堪折直須折, 
莫待無花空折枝。


Phiên Âm:

Kim Lũ Y

Khuyến quân mạc tích kim lũ y, 
Khuyến quân tích thủ thiếu niên thì; 
Hoa khai kham chiết trực tu chiết, 
Mạc đãi vô hoa không chiết chi.


Chủ Nhân Dịch:

Giáp Chỉ Vàng

Tiếc chi đai giáp chỉ vàng 
Tiếc cho niên thiếu tuổi chàng nhanh qua, 
Chần chừ bẻ một đóa hoa, 
Chờ khi sắc nhạt, màu nhòa mà chi ...




Comments

Popular posts from this blog

Cassandra, Thà Không Biết Còn Hơn

Hồi giữa tháng mười một này, có tham quan buổi triễn lãm về siêu thực ở cung điện nghệ thuật [1] tại Lyon. Triễn lãm bắt đầu từ tháng mười, vốn đã định đi từ đầu vì thấy cái tên Max Esnrt trong poster triễn lãm, vậy mà bận mãi đến giờ mới đi được. Thú vị thì nhiều thứ lắm, nhưng quá ấn tượng với tác phẩm Cassandra của Eugene Berman, nên về là thảo ý tưởng viết bài ngay. Cái tông đỏ ám ảnh của nó thật kỳ dị, quá kỳ dị và ngột ngạt, nhìn một hồi, không hiểu sao cứ lạnh sống lưng. Chắc do cảm lạnh, hi vọng thế. "Cassandra" của Eugene Breman Eugene Berman sinh năm 1899 ở Moscow, Nga, nhưng sống và làm việc chủ yếu ở phía tây, đặc biệt là Pháp. Nằm trong trường phái tân lãng mạn (neoromantism), ông thành công với các buổi triễn lãm ở Paris, sau đó ông đi New York rồi Los Angeles và về Rome rồi mất ở đấy. Phản đối lại hiện thực xấu xa của xã hội đương thời được gáng cho chủ nghĩa vật chất (materialism) hay chủ nghĩa hiện thực (realism), những con người vẫn còn hoài tưởng về chủ ng...

Dịch Thơ: Mô Ngư Nhi - Nhạn Khâu của Nguyên Hiếu Vấn

Ai coi tiểu thuyết hay phim cổ trang Thần Điêu Hiệp Lữ của Kim Dung, chắc ai cũng có ấn tượng về bài thơ của Lý Mạc Sầu. Không ít người thuộc lòng, nhưng chắc không phải ai cũng rõ xuất xứ bài này. Trong tác phẩm Thần điêu hiệp lữ của Kim Dung, Lý Mạc Sầu chỉ hát nửa đầu của bài từ mà thôi: Hỏi thế gian Tình ái là gì nhỉ ? Sống chết một lời hứa luỵ Nam Bắc phân chia hai đàng Mưa dầm nắng dãi quan san Cánh chim bạt gió muôn ngàn khổ đau Chung quy một kiếp tình sầu Khi vui gang tấc Ngàn sầu biệt ly Biết cùng ai, biết nói gì Chỉ trông mây núi người đi không về... Bài này là một bài từ, nguyên văn như sau: Phần hán văn:  摸魚兒-雁丘 問世間、情是何物, 直教生死相許? 天南地北雙飛客, 老翅幾回寒暑。 歡樂趣、 離別苦, 就中更有痴兒女。 君應有語, 渺萬里層雲。 千山暮雪, 只影向誰去? 橫汾路、 寂寞當年蕭鼓, 荒煙依舊平楚。 招魂楚些何嗟及, 山鬼暗啼風雨。 天也妒、 未信與, 鶯兒燕子俱黃土。 千愁萬古, 為留待騷人。 狂歌痛飲, 來訪雁丘處。 Phiên âm: Mô ngư nhi - Nhạn khâu Vấn thế gian tình thị hà vật Trực giao sinh tử tương hứa Thiên nam địa bắc song phi khách Lão sí kỷ hồi hàn thử ...

Anh Trở Về Quê Cũ

anh trở về quê cũ dừng giấc mơ yêu em lại những tưởng ngày tháng còn dài anh sẽ lại có em thôi cố quên anh trở về quê cũ làm kẻ nông phu của anh em tiếp tục tìm kiếm mộng lành nơi xứ lạ xứ lạ không anh. anh trở về quê cũ gặm nhắm kỷ niệm ngày xưa chờ giấc mơ trưa từ đâu lắng lại thời bé dại yêu em Để đi đường xa, cần cả hai bàn tay nắm lại, Chỉ một bàn tay vỗ sao nên tiếng, phải không em ?